Phiên bản đang chạy thử nghiệm. Trang thông tin điện tử công đoàn các khu công nghiệp tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

GIỚI THIỆU

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

CỦA CÔNG ĐOÀN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

Sự hình thành và phát triển các Khu công nghiệp (KCN) tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu từ năm 1996 đến nay, đã thu hút một lượng lớn các Nhà đầu tư trong và ngoài nước đến làm ăn, hợp tác sản xuất kinh doanh trên địa bàn các KCN tỉnh, tạo nên hệ thống các doanh nghiệp (DN) lớn đóng góp cho sự phát triển chung về kinh tế - Xã hội của tỉnh; cùng với sự phát triển của hệ thống các KCN là các Dự án hạ tầng các KCN được đầu tư xây dựng hoàn chỉnh đáp ứng nhu cầu hạ tầng kỹ thuật của các DN khi đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, từ đó các DN có nguồn vốn lớn, có chiến lược kinh doanh bài bản, có thị trường lớn trong khu vực và thế giới đã có mặt trong các KCN trên địa bàn các KCN; kéo theo đó là nhu cầu thu hút về số lượng công nhân lao động (CNLĐ) vào làm việc trong các doanh nghiệp KCN ngày một tăng; từ đây, nhu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trở nên cấp thiết thì việc hình thành tổ chức CĐCS tại doanh nghiệp để đại diện cho người lao động là tất yếu. Sau khi được Liên đoàn Lao động tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu khảo sát nắm tình hình hoạt động của các DN và công đoàn cơ sở (CĐCS) trong các KCN, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của người lao động; trên cơ sở các CĐCS đã được thành lập, để có một tổ chức Công đoàn cấp trên cơ sở trực tiếp chỉ đạo phong trào CNLĐ và hoạt động công đoàn trong các KCN, Ban Thường vụ LĐLĐ tỉnh BRVT đã có Quyết định số 32/QĐ-LĐLĐ ngày 22/4/2004 về việc thành lập Công đoàn các Khu công nghiệp tỉnh BRVT.

Từ 18 Công đoàn cơ sở với 2.890 ĐV khi mới thành lập, đến nay Công đoàn các KCN đã có 128 CĐCS đang hoạt động với 42.279 đoàn viên đang làm việc trong các doanh nghiệp KCN, đội ngũ cán bộ CĐCS phát triển nhanh về số lượng và chất lượng (đến nay đã có 1.142 cán bộ CĐCS, trong đó 447 là cán bộ nữ), chất lượng cán bộ từng bước được nâng cao về nhận thức pháp luật, bản lĩnh chính trị và kỹ năng hoạt động công đoàn. Nội dung và hình thức hoạt động của tổ chức công đoàn từng bước được đổi mới để thực sự là tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động. Từ đó đã dần thay đổi về nhận thức của công nhân lao động về tổ chức công đoàn, tạo cho họ có niềm tin đối với tổ chức công đoàn và họ đã tự nguyện gia nhập tổ chức công đoàn. Vị thế và uy tín của tổ chức công đoàn trong các KCN ngày càng được nâng lên.

Chặng đường 14 năm là khoảng thời gian chưa dài đối với sự phát triển của một tổ chức công đoàn cấp trên cơ sở, song đây cũng là dịp để chúng ta nhìn lại những kết quả đạt được, đúc rút những kinh nghiệm quý báu và phân tích sâu sắc những hạn chế, thiếu sót cần khắc phục trong thời gian tới.

Trong quá trình hoạt động, tập thể Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Công đoàn các khu công nghiệp đã thường xuyên quân tâm đến nội dung và hình thức hoạt động của của tổ chức công đoàn cơ sở; từng bước đổi mới phương thức hoạt động hướng về cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động, lấy đoàn viên, NLĐ làm đối tượng vận động, lấy chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động làm mục tiêu hoạt động. Với phương châm đó, Công đoàn các KCN đã tổ chức nhiều hoạt động Văn hóa, Văn nghệ, thể thao, thăm hỏi, động viên CNLĐ có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong cuộc sống nhằm thiết thực chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, đoàn viên công đoàn và NLĐ, giúp người lao động gắn bó hơn với doanh nghiệp, góp phần tích cực vào việc tuyên truyền, giáo dục người lao động, thực hiện tốt các quy định của pháp luật, Điều lệ, nghị quyết của tổ chức công đoàn. Phối hợp cùng với doanh nghiệp tổ chức các lớp bồi dưỡng nâng cao kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn, tay nghề để ngày càng đáp ứng yêu cầu sự đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giúp các doanh nghiệp phát triển sản xuất, tạo mối quan hệ lao động hài hoà, ổn định và phát triển.

Việc triển khai Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng; chính sách pháp luật của Nhà nước; chỉ thị, nghị quyết của Công đoàn cấp trên cho đoàn viên, CNLĐ được các công đoàn cơ sở tiến hành thường xuyên, sâu rộng với nhiều hình thức phong phú; nội dung tài liệu tuyên truyền được biên soạn ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với đối tượng CNLĐ sản xuất; triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 20-NQ/TW về "Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước". Thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” góp phần làm chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động, nâng cao nhận thức chính trị tư tưởng, đạo đức, phẩm chất, lối sống và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội đối với cán bộ, đoàn viên, CNLĐ.

 Trải qua ba kỳ đại hội, Công đoàn các Khu công nghiệp tỉnh BRVT đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng tổ chức Công đoàn, vận động CNVCLĐ trong các khu công nghiệp vượt qua những khó khăn, thách thức, nhất là trong giai đoạn do tác động của khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu và suy giảm kinh tế (các năm 2007, 2008, 2009); lạm phát trong nước, những biến động về thị trường, sự cạnh tranh khốc liệt trên thương trường trong và ngoài nước, khiến cho nhiều doanh nghiệp phải giải thể, đình đốn; công nhân lao động mất việc làm ở một số DN, việc làm, đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận NLĐ còn gặp khó khăn nhưng họ vẫn một lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tích cực thi đua trong lao động sản xuất tạo động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - Xã hội của tỉnh; bình quân hàng năm giá trị công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu đạt từ 30 - 40% so với toàn tỉnh, sản phẩm người lao động làm ra đã có mặt trên 80 nước của thị trường thế giới.

 Với vai trò, chức năng của tổ chức công đoàn, Công đoàn các KCN đã trực tiếp tham gia với các ngành, các cấp, phối hợp có hiệu quả với Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh và Lãnh đạo các doanh nghiệp để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, nhằm phát triển sản xuất – kinh doanh, giải quyết việc làm, đào tạo bồi dưỡng tay nghề, phát huy dân chủ, tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước, nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất, đảm bảo an toàn vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần; cải thiện điều kiện, môi trường làm việc cho CNVCLĐ. Việc chăm lo đời sống, thăm hỏi đoàn viên, CNLĐ khi ốm đau, hoạn nạn, sinh nhật, hiếu hỷ…được các CĐCS đặc biệt quan tâm đã tạo được tình cảm gắn bó của đoàn viên, CNLĐ với tổ chức Công đoàn.

Công tác xã hội từ thiện: Vận động công nhân lao động và Người sử dụng lao động tích cực hưởng ứng và tham gia đóng góp các Quỹ từ thiện – xã hội, Đền ơn đáp nghĩa, Quỹ ủng hộ đồng bào khó khăn do ảnh hưởng của thiên tai, bạo lũ, Quỹ tấm lưới nghĩa tình vì Hoang sa, trường Sa, Quỹ học bổng Nguyễn Đức cảnh với số tiền hàng tỷ đồng: Cụ thể từ năm 2005 đến 2009 khoảng 2 tỷ đồng, năm 2010: khoảng 71 triệu đồng, năm 2011: khoảng 120 triệu đồng, năm 2012: 179 triệu đồng, năm 2013 trên 200 triệu đồng, năm 2014: 607.669,000 đ (Quỹ đền ơn đáp nghĩa: 24.400,000đ, Quỹ vì người nghèo: 256.300,000đ, Quỹ học bổng Nguyễn Đức cảnh: 146.500,000đ, Quỹ Vì Biển đảo quê hương: 180.469,000đ), năm 2015: 1.097,665 đ (Quỹ đền ơn đáp nghĩa: 300.000,000đ, Quỹ vì người nghèo: 700.065,000đ, Quỹ học bổng Nguyễn Đức Cảnh: 97.600,000đ), năm 2016: 82.639,000đ (Quỹ đền ơn đáp nghĩa: 4 triệu đồng, Quỹ vì người nghèo: 4.639,000đ, Quỹ học bổng Nguyễn Đức Cảnh: 74.000,000 đ), năm 2017: 1.015,104,471 đ (Quỹ đền ơn đáp nghĩa: 34.237,500đ, quỹ vì người nghèo: 582.178,500 đ, quỹ ủng hộ các tỉnh miền núi phía Bắc bị thiệt hại do mưa lũ: 103.958,471 đ, quỹ ủng hộ các tỉnh Miền Trung khắc phục cơn bão số 10 tràn vào: 108.730,000đ, quỹ học bổng Nguyễn Đức Cảnh: 186.000,000 đ).

Phong trào thi đua được tổ chức và phát động ngày càng sâu rộng trong tập thể CNLĐ nhằm chào mừng các sự kiện chính trị, kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước… từng bước đổi mới cả về nội dung và hình thức của phong trào nên đã thu hút đông đảo CNLĐ tham gia, điển hình như: Phong trào “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”; phong trào “Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, thực hành tiết kiệm; phong trào thi đua lao động sản xuất, tháo gỡ khó khăn; phong trào “Xanh – Sạch – Đẹp, đảm bảo ATVSLĐ-PCCN”, tích cực đăng ký các công trình sản phẩm, đề tài sáng kiến, cải tiến kỹ thuật; sau mỗi lần phát động đều tổ chức sơ kết nhằm biểu dương cán bộ Công đoàn, CNLĐ tiêu biểu và nhân rộng điển hình tiên tiến trong lao động sản xuất; kết quả: Có 109 sáng kiến, trong đó có 05 sáng kiến của tập thể và 104 sáng kiến của cá nhân (25 sáng kiến của Công ty cổ phần giấy Sài Gòn, 30 sáng kiến của CĐCS Công ty TNHH SX giày Uy Việt, 10 sáng kiến của CĐCS Công ty Đông Phương Vũng Tàu, 11 sáng kiến của CĐCS Công ty TNHH Vard Vũng Tàu, 1 sáng kiến của CĐCS Công ty IZICO, 27 sáng kiến của CĐCS Công ty TNHH Kinh doanh Nông sản Việt Nam. Ngoài ra, tại các CĐCS, doanh nghiệp đoàn viên, người lao động có rất nhiều sáng kiến nhưng không đăng ký lên cấp trên... Nhìn chung, các phong trào thi đua đã mang lại hiệu quả rõ rệt trong sản xuất kinh doanh; tinh thần thi đua yêu nước trong CNLĐ được khơi dậy, đã thúc đẩy năng lực sáng tạo, ý thức tự lực, tự cường, dám nghĩ, dám làm và vượt khó của CNLĐ. Thông qua các phong trào thi đua do công đoàn tổ chức đã giúp đội ngũ CNLĐ được nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề, bậc thợ. Kết quả đã có 03 CĐCS, 14 cá nhân và 01 nhóm dự án được khen thưởng cấp tỉnh về phong trào thi đua yêu nước, 04 CĐCS và 24 CNLĐ được Công đoàn các KCN tặng giấy khen; 02 cờ thi đua và nhiều bằng khen của Liên đoàn Lao động tỉnh năm 2013; Công đoàn các KCN trao hơn 120 giấy khen cho các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc mỗi năm.

Phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” được triển khai với nhiều hình thức và thu hút đông đảo sự hưởng ứng của nữ công nhân lao động ở mọi lĩnh vực. Kết quả của phong trào thi đua này góp phần tạo điều kiện cho nữ công nhân lao động từng bước khẳng định bản lĩnh chính trị, năng lực trình độ trên từng vị trí công tác, đồng thời thực hiện tốt vai trò người mẹ, người vợ trong gia đình, là nền tảng để xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Đến nay, đã có trên 95% công đoàn cơ sở trực thuộc triển khai phát động phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”.

Phong trào thi đua ”Xanh-sạch-đẹp-đảm bảo an toàn vệ sinh lao động” được các CĐCS phát động rộng rãi, có 95% CĐCS tự chấm điểm phong trào xanh-sạch-đẹp, đạt 100% kế hoạch đề ra.

Kết quả thực hiện công tác phát triển đoàn viên và thành lập CĐCS  trong những năm vừa qua đều vượt so với chỉ tiêu của kế hoạch (từ năm 2004 đến nay kết nạp mới 39.389 đoàn viên, đạt bình quân hàng năm tăng thêm 2.814 đoàn viên công đoàn, nâng tổng số đoàn viên đến nay là 42.279 người đang làm việc trong các doanh nghiệp KCN. Phát triển mới 110 CĐCS, nâng tổng số CĐCS trực thuộc lên 128 đơn vị; cụ thể các năm thực hiện được như sau:Năm 2005: Số CĐCS được thành lập mới là: 08 CĐCS đạt tỷ lệ 96 % so với kế hoạch; số đoàn viên kết nạp mới là: 1.969 người,  đạt tỷ lệ 98 % so với kế hoạch.

          Năm 2006: Số CĐCS được thành lập mới là: 08 CĐCS đạt tỷ lệ 96 % so với kế hoạch; số đoàn viên kết nạp mới là: 2.751 người,  đạt tỷ lệ 137% so với kế hoạch.

Năm 2007: Số CĐCS được thành lập mới là: 09 CĐCS đạt tỷ lệ 105 % so với kế hoạch; số đoàn viên kết nạp mới là: 3.206 người,  đạt tỷ lệ 169 % so với kế hoạch.
          Năm 2008: Số CĐCS được thành lập mới là: 09 CĐCS đạt tỷ lệ 94% so với kế hoạch; số đoàn viên kết nạp mới là: 3.125 người,  đạt tỷ lệ 157% so với kế hoạch.

          Năm 2009: Số CĐCS được thành lập mới là: 14 CĐCS đạt tỷ lệ 214% so với kế hoạch; số đoàn viên kết nạp mới là: 4.423 người,  đạt tỷ lệ 287% so với kế hoạch.

          Năm 2010: Số CĐCS được thành lập mới là: 14 CĐCS đạt tỷ lệ 140 % so với kế hoạch; số đoàn viên kết nạp mới là: 2.779 người,  đạt tỷ lệ 186 % so với kế hoạch.

          Năm 2011: Số CĐCS được thành lập mới là: 13 CĐCS đạt tỷ lệ 100 % so với kế hoạch; số đoàn viên kết nạp mới là: 4.171 người,  đạt tỷ lệ 208 % so với kế hoạch.

          Năm 2012: Số CĐCS được thành lập mới là: 10 CĐCS đạt tỷ lệ 100 % so với kế hoạch; số đoàn viên kết nạp mới là: 2.157 người, đạt tỷ lệ 108 % so với kế hoạch.

          Năm 2013: Số CĐCS được thành lập mới là: 10 CĐCS đạt tỷ lệ 142 % so với kế hoạch; số đoàn viên kết nạp mới là: 2.716 người, đạt tỷ lệ 132 % so với kế hoạch.

          Năm 2014: Số CĐCS được thành lập mới là: 08 CĐCS đạt tỷ lệ 102 % so với kế hoạch; số đoàn viên kết nạp mới là: 1.178 người, đạt tỷ lệ 82 % so với kế hoạch.

          Năm 2015: Số CĐCS được thành lập mới là: 07 CĐCS đạt tỷ lệ 100 % so với kế hoạch; số đoàn viên kết nạp mới là: 3.758 người, đạt tỷ lệ 152 % so với kế hoạch.

          Năm 2016: Số CĐCS được thành lập mới là: 13 CĐCS đạt tỷ lệ 172 % so với kế hoạch; số đoàn viên kết nạp mới là: 3.239 người, đạt tỷ lệ 112 % so với kế hoạch.

          Năm 2017: Số CĐCS được thành lập mới là: 11 CĐCS đạt tỷ lệ 152 % so với kế hoạch; số đoàn viên kết nạp mới là: 3.517 người, đạt tỷ lệ 122 % so với kế hoạch.

Các Công đoàn cơ sở đã thực hiện tốt các hoạt động công đoàn theo tiêu chuẩn Thông số chấm điểm công đoàn vững mạnh hàng năm, nhờ đó mà tỷ lệ CĐCS đạt vững mạnh được tăng lên: Khối CĐCS trong các DN ngoài Nhà Nước hàng năm đạt CĐCS vững mạnh trên 57 % (Tiêu chí là 40%), quan hệ lao động trong các doanh nghiệp dần ổn định và phát triển, số vụ tranh chấp lao động đã giảm dần theo từng năm (năm 2008: 15 vụ, năm 2009: 13 vụ, năm 2010: 8 vụ, năm 2011: 05 vụ, năm 2012: 03 vụ, năm 2013: 02 vụ, năm 2014: 02 vụ, năm 2015; 03 vụ, năm 2016: 04 vụ, năm 2017: 02 ).

Số CĐCS tham gia thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể được tăng lên hàng năm (năm 2008: 35 bản, năm 2009: 37 bản, năm 2010: 42 bản, năm 2011: 45 bản, năm 2012:57 bản, năm 2013:73 bản, năm 2014: 81 bản, năm 2015: 75 bản, năm 2016: 81 bản, năm 2017: 98 bản, năm 2018: 90 bản) chất lượng các bản thỏa ước cũng được nâng lên và có nhiều điểm có lợi hơn so với quy định của pháp luật.

Quy chế dân chủ ở cơ sở đã được Công đoàn các KCN phối hợp với Ban quản lý các KCN, hướng dẫn, kiểm tra thường xuyên đối với các doanh nghiệp, CĐCS và toàn thể CNVCLĐ; hiện nay có 3/3 cơ quan hành chính tổ chức Hội nghị CBCC, đạt 100 % (NQ là 100%), có 76/116 CĐCS phối hợp với DN tổ chức hội nghị NLĐ đạt tỷ lệ 65,51 % (NQ là 65 %), số DN xây dựng Quy chế dân chủ cơ sở 84/116 DN, đạt 72,41% (NQ là 705).

Công tác xây dựng tổ chức Đảng và phát triển đảng viên trong công nhân lao động luôn gắn với công tác xây dựng CĐCS vững mạnh. Hàng năm các CĐCS đều tổ chức vận động CNLĐ tham gia cuộc vận động xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh; lấy ý kiến của CBCC,VC, NLĐ đóng góp ý kiến cho cấp ủy Đảng cơ sở, đảng viên trong đơn vị, góp phần nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao chất lượng Đảng viên. Thông qua phong trào công nhân lao động và hoạt động công đoàn đã phát hiện những nhân tố tích cực, những đoàn viên xuất sắc và giới thiệu 161 đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét, trong đó có 27 đoàn viên được kết nạp Đảng, bình quân hàng năm đạt khoảng 42 % số CĐCS giới thiệu (NQ là ít nhất 01 CĐCS giới thiệu một quần chúng ưu tú).

Với những thành tích của phong trào CNVCLĐ và hoạt động công đoàn trong những năm qua, Công đoàn các KCN tỉnh BRVT đã vinh dự được tặng thưởng các danh hiệu thi đua như:

       -       Từ năm 2005 đến 2009 là Công đoàn cấp trên cơ sở vững mạnh;

-         Năm 2010 được Liên đoàn Lao động tỉnh tặng bằng khen.

-         Năm 2011, 2012 nhận cờ thi đua của Liên đoàn Lao động tỉnh.

-         Năm 2013, 2014 được vinh dự nhận cờ thi đua của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

-         Năm 2016 được nhận bằng khen toàn diện của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, được nhận Cờ thi đua xuất sắc về phát triển đoàn viên và thành lập CĐCS.

-         Năm 2017 là đơn vị dẫn đầu khối thi đua công đoàn ngành của tỉnh và được nhận Cờ toàn diện của Ban Thường vụ LĐLĐ tỉnh.

Bên cạnh đó, còn nhiều tập thể và cá nhân được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Liên đoàn Lao động tỉnh tặng bằng khen trong thời gian vừa qua.

Để đạt được kết quả nêu trên, trước hết là sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời, sâu sát của Đảng đoàn - Thường trực LĐLĐ tỉnh, sự hướng dẫn về hoạt động chuyên môn của các Ban chuyên đề LĐLĐ tỉnh; sự phối hợp có hiệu quả của Ban Quản lý các KCN trong công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động đối với chủ sử dụng lao động; sự quan tâm, hỗ trợ và phối hợp tốt của Lãnh đạo các doanh nghiệp trong hoạt động công đoàn tại cơ sở. Đặc biệt, nhân tố quyết định thành công trong hoạt động công đoàn các KCN phải kể đến đội ngũ cán bộ Công đoàn các khu công nghiệp được đào tạo cơ bản, nhiệt tình với phong trào CNVCLĐ, tâm huyết với công việc; Cán bộ Công đoàn cơ sở chủ yếu là kiêm nhiệm công tác công đoàn nhưng với lòng nhiệt tình công tác, tích cực với hoạt động công đoàn, bằng những việc làm cụ thể đã đem lại quyền và lợi ích cho người lao động, tạo được mối quan hệ tốt với lãnh đạo doanh nghiệp, góp phần tạo mối quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ tại doanh nghiệp.

Bên cạnh những thành công nêu trên, vẫn còn đó những khó khăn trong hoạt động Công đoàn tại các KCN như: Các Doanh nghiệp trong các KCN phần lớn là Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và vốn ngoài nhà nước, do có sự khác nhau căn bản về lợi ích, quan hệ lao động dựa trên quan hệ giữa chủ và thợ, cho nên việc tuyên truyền, vận động người sử dụng lao động tạo điều kiện để thành lập tổ chức Công đoàn theo quy định và người lao động tham gia tổ chức Công đoàn còn nhiều khó khăn; cường độ lao động cao, thu nhập của người lao động vẫn còn thấp, chưa đảm bảo cuộc sống sinh hoạt bình thường đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động công đoàn. Một số Lãnh đạo các DN chưa tạo điều kiện để thành lập tổ chức công đoàn tại cơ sở, cán bộ BCH CĐCS thường thay đổi vị trí công tác, địa điểm làm việc theo yêu cầu của DN nên ít có thời gian cho hoạt động công đoàn, dẫn đến hoạt động Công đoàn của một số đơn vị cơ sở chưa phát huy hết vai trò, chức năng của mình.

Công tác tuyên truyền giáo dục còn dàn trải, việc tuyên truyền giáo dục pháp luật tới NLĐ còn hạn chế, một số BCH Công đoàn cơ sở hoạt động chưa hiệu quả. Vai trò tham gia quản lý, đại diện bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp chính đáng cho đoàn viên và người lao động của các CĐCS nhiều nơi còn mờ nhạt, hiệu quả thấp; Số lượng và chất lượng các doanh nghiệp tổ chức Hội nghị NLĐ còn thấp; xây dựng thương lượng và ký kết TƯLĐTT con mang tính hình thức, chưa có nhiều điều khoản có lợi hơn so với quy định của pháp luật.

Công tác báo cáo quyết toán tài chính ở một số CĐCS không đầy đủ, không kịp thời; nhiều đơn vị không lập báo cáo quyết toán tài chính theo đúng nội dung và thời gian quy định; việc hướng dẫn nghiệp vụ kế toán cho các CĐCS còn hạn chế, công tác kiểm tra, hướng dẫn cụ thể cho các CĐCS chưa đều khắp, nhất là các đơn vị mới thành lập, dẫn đến nhiều đơn vị lúng túng trong việc thực hiện.

Ý thức chấp hành pháp luật của NSDLĐ và NLĐ về công tác ATVSLĐ chưa tốt. Số vụ TNLĐ xẩy ra còn khá nhiều, nhiều vụ TNLĐ nặng không được báo cáo đầy đủ, kịp thời theo quy định; một số các doanh nghiệp chưa chấp hành tốt các quy định về công tác ATVSLĐ; Mạng lưới AT-VSV ở một số đơn vị hoạt động còn hình thức, kém hiệu quả; một số doanh nghiệp không trả phụ cấp cho ATVSV theo quy định…

Những tồn tại hạn chế nêu trên một phần do Nguyên nhân: Đội ngũ cán bộ công đoàn thường xuyên biến động; hầu hết là kiêm nhiệm, lại chưa được tập huấn, bồi dưỡng nhiều về nghiệp vụ nên kỹ năng tuyên truyền, vận động, thuyết phục chưa tốt. Trình độ, năng lực của một số cán bộ công đoàn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Hầu hết cán bộ công đoàn còn kiêm nhiệm, phụ thuộc nhiều vào NSDLĐ, ít thời gian cho hoạt động Công đoàn, hạn chế về nghiệp vụ, thiếu bản lĩnh trong tuyên truyền, thương lượng đối với NSDLĐ, trong việc xây dựng cơ chế chính sách để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NLĐ.

Để dần khăc phục những vấn đề trên chúng ta cần làm tốt các nội dung sau:

1) Trong công tác chỉ đạo phải coi trọng cả hai mặt công tác đó là phát triển và phát huy vai trò của tổ chức, từ đó đề ra chỉ tiêu, yêu cầu đồng bộ giữa vận động phát triển đoàn viên công đoàn, thành lập Công đoàn cơ sở, nâng cao chất lượng hoạt động của Công đoàn cơ sở , xây dựng Công đoàn cơ sở  vững mạnh.


2) Trong tổ chức thực hiện, Công đoàn các khu công nghiệp  phải thực tốt 6 yêu cầu sau:

- Xây dựng Ban Chấp hành, Uỷ ban kiểm tra công đoàn  đoàn kết, dân chủ và hoạt động có trách nhiệm;

- Chấp hành và tranh thủ sự chỉ đạo, hỗ trợ của Liên đoàn lao động tỉnh;

- Phối hợp chặt chẽ với Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh trong công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động;

 -Thường xuyên giữ mối liên hệ với Ban giám đốc các doanh nghiệp để nắm bắt tình hình sản xuất, quan hệ lao động.

- Sâu sát và hỗ trợ kịp thời đối với Ban Chấp hành các Công đoàn cơ sở ;

- Triển khai thực hiện các mặt công tác phải đến nơi, đến chốn, coi trọng tính thiết thực và hiệu quả.
3) Xây dựng mối quan hệ gần gũi, gắn bó giữa công đoàn cấp trên với Công đoàn cơ sở , giữa cán bộ công đoàn và đoàn viên, Giữa Công đoàn cơ sở  với chủ doanh nghiệp, Giữa Công đoàn cấp trên với các doanh nghiệp; Thường xuyên liên hệ, hướng dẫn, động viên cán bộ Công đoàn cơ sở  trong hoạt động; trực tiếp hướng dẫn, soạn sẵn những mẫu biểu để Công đoàn cơ sở  thuận tiện trong hoạt động; kịp thời giải quyết các vướng mắc của Công đoàn cơ sở;

4) Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn để  đề ra nội dung, phương pháp hoạt động phù hợp; có  sự phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý nhà nước về lao động, nhất là trong việc giải quyết tranh chấp lao động.
5) Triển khai kịp thời các chủ trương, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết của tổ chức Công đoàn Việt Nam đến với đoàn viên và người lao động.  Đặc biệt giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp, góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và lãnh đạo cách mạng trong thời  kỳ mới.

6) Tuyên truyền giáo dục để mỗi cán bộ đoàn viên, công nhân lao động nhận thức rõ lợi ích của mỗi cá nhân luôn gắn với lợi ích tập thể, lợi ích của giai cấp và lợi ích của dân tộc để yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, không ngừng phấn đấu học tập, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, tích luỹ kiến thức, hiểu biết pháp luật, thực hiện tốt nghĩa vụ người công dân, sống làm việc theo Hiến pháp, pháp luật.

7) cán bộ Công đoàn cơ sở  phải không ngừng bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh lập trường, nhiệt tình công tác, xứng đáng là chỗ dựa tin cậy của người lao động. Tham gia quản lý và kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật, chế độ và chính sách có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động. 

8) tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, trọng tâm là thi đua lao động giỏi, lao động sáng tạo với mục tiêu năng suất, chất lượng, hiệu quả và đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, đảm bảo vệ sinh môi trường; Phong trào học tập nâng cao trình độ học vấn, tay nghề để đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển.  

9) đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của công đoàn. Đẩy mạnh công tác phát triển đoàn viên, thành lập Công đoàn cơ sở  trong các doanh nghiệp, gắn phát triển đoàn viên với xây dựng Công đoàn cơ sở vững mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của công đoàn. 

Ban Chấp hành, UBKT Công đoàn các khu công nghiệp, các cán bộ công đoàn cơ sở, đoàn viên công đoàn hãy đoàn kết, nỗ lực công tác cao nhất để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công tác trong thời gian tới nhằm xây dựng tổ chức công đoàn các KCN lớn mạnh, tiếp tục thể hiện ý chí quyết tâm của toàn thể công nhân lao động KCN, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, xứng đáng là lực lượng nòng cốt đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Công đoàn các KCN quyết tâm đổi mới phương thức hoạt động, làm tròn trách nhiệm của mình đối với người lao động và đối với tổ chức Công đoàn; góp phần tích cực xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn vững mạnh; xây dựng tỉnh Bà Rịa – Vũng tàu ngày càng giàu đẹp, văn minh.

 

THÔNG BÁO - MỜI HỌP

Căn cứ Kế hoạch số 164/KH-LĐLĐ ngày 30/6/2016 của Liên đoàn Lao động tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng trong công nhân, viên chức, lao động, Ban Thường vụ công đoàn các KCN xây dựng kế hoạch tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng với các nội dung cụ thể như sau:
Xem chi tiết tại đây

LỊCH CÔNG TÁC

KẾ HOẠCH CÔNG TÁC NĂM 2018

 Căn cứ Chương trình công tác năm 2018 của Liên đoàn Lao động tỉnh.

Căn cứ Chương trình công tác toàn khoá nhiệm kỳ 2015-2020 của Công đoàn các KCN và tình hình thực tế tại đơn vị. Ban Thường vụ Công đoàn các KCN lập kế hoạch công tác năm 2018 như sau: 
Số TT Nội dung hoạt động Thời gian Đơn vị thực hiện Đơn vị phối hợp Ghi chú
1
Hướng dẫn các CĐCS phối hợp với DN thực hiện lương tối thiểu vùng theo Nghị định 141/2017/NĐ-CP, ngày 07/12/2017 của Chính phủ. Chỉ đạo, đôn đốc các CĐCS phối hợp với doanh nghiệp tổ chức hội nghị NLĐ năm 2018, đối thoại tại nơi làm việc; xây dựng, thương lượng, ký kết TƯLĐTT.
Tháng 01- tháng 02
VP.CĐ
CKCN
Doanh nghiệp,
CĐCS
 
2
Tổng kết hoạt động công đoàn năm 2017 và phát động thi đua năm 2018. Nắm tình hình lương thưởng tết cho CNLĐ tại các DN trong KCN, tặng quà tết cho CNLĐ có hoàn cảnh khó khăn; thăm và tặng quà một số doanh nghiệp khu công nghiệp nhân dịp Tết Nguyên Đán 2018. Hướng dẫn công tác tuyên giáo, công tác nữ công năm 2018. KH tuyên truyền, tập huấn pháp luật năm 2018.

Tháng

01 – Tháng 02 

VP.CĐ

CKCN; CĐCS

Các doanh nghiệp, CĐCS